Siêu dự án nông nghiệp: Trại heo triệu đô ở biên giới

03:03 |

Ở biên giới VN - Campuchia xuất hiện một trang trại - resort đúng nghĩa, mà theo lời chủ nhân của nó thì mức hiện đại của trại đứng đầu khu vực Đông Nam Á.
Hệ thống tự động trong trang trại heo hiện đại nhất VN - Ảnh: Q.THệ thống tự động trong trang trại heo hiện đại nhất VN - Ảnh: Q.T
Chúng tôi di chuyển bằng đường bộ từ TP.HCM đến biên giới Campuchia, địa phận H.Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, theo tuyến QL14. Đi hết quãng đường gập ghềnh mịt mù bụi và những ổ gà, ổ voi, rẽ vào một con đường rải sỏi chạy hun hút trong khu rừng cao su bạt ngàn để đến trang trại Lộc Phát.
Vào trại phải 3 lần “tắm”
Tất cả những người trong đoàn đều phải xuống xe, đi bộ qua cánh cổng riêng để phun thuốc sát trùng. Vào bên trong, không khí mát mẻ lập tức ùa đến với hàng cây xanh chạy dài ven lối đi trải bê tông sạch sẽ, bao quanh là hồ nước.
Ông Nguyễn Trung Hiếu, Giám đốc Công ty Lộc Phát, cho biết chỉ riêng chi phí để mua cây xanh tạo cảnh quan cho trang trại đã ngốn hết gần 4 tỉ đồng. “Ở đây các thiết bị đều được lập trình sẵn, khách vào phải vệ sinh, tắm đủ thời gian quy định thì cánh cửa tiếp theo mới mở ra. Qua 2 lần cửa thì đến phòng thay đồ. Đây là quy trình bắt buộc để đảm bảo trang trại hoàn toàn vô trùng và sạch bệnh”, ông Hiếu hướng dẫn.
Làm xong hết các thủ tục “tiệt trùng” mất hết gần 30 phút, chúng tôi mới bắt đầu chuyến tham quan trang trại bằng chiếc xe chạy điện. Ông Hiếu cho biết quy mô trại chăn nuôi lên đến 54 ha, với 2.400 heo nái, 10.000 heo hậu bị. Toàn bộ trại heo giống được vận hành tự động và khép kín. “Khi thời tiết nóng, bên trong trại tự động điều chỉnh nhiệt độ. Hệ thống cung cấp thức ăn cho heo, vệ sinh chuồng trại đều tự động. Liều lượng chất dinh dưỡng trong thức ăn cũng được máy móc trộn sẵn, định kỳ cung cấp cho đàn heo”, ông Hiếu thuyết minh và thông tin thêm: Ở đây, mọi thứ đều được vận hành tuần hoàn, không có khái niệm bỏ đi. Chất thải của heo được đưa vào hệ thống biogas để tạo gas cung cấp cho máy phát điện phục vụ lại cho trại (đáp ứng 30% nguồn điện của trại). Nước thải được đưa vào hệ thống tưới cho hàng chục ngàn ha cao su trong vùng để tạo nguồn thu và tăng năng suất cho vườn cao su hơn 30%. Nhau thai từ heo được làm thức ăn cho 3.600 con cá sấu nuôi tại trại. Tại đây còn có nhiều ao nuôi cá với sản lượng lớn.
Hướng đến hiện đại nhất thế giới
Ông Hiếu kể, ông đã qua Thái Lan để tìm hiểu mô hình trại của người Thái và nhận ra “trình độ của họ hơn mình, nhưng người Việt chưa làm chứ không phải là không làm được”. Với suy nghĩ đó, toàn bộ vốn liếng tích cóp được, thêm vốn vay từ ngân hàng, ông quyết tâm xây cho được mô hình trang trại này để chứng minh người Việt không hề thua kém. Tổng số vốn ông Hiếu đầu tư vào trại chăn nuôi này đã xấp xỉ 6 triệu USD.
Từ ngày hoàn thiện xong trại heo, ông Hiếu ở luôn trên trại, đến cuối tuần mới về thành phố. Hiện trại heo giống Lộc Phát là mô hình hiện đại, nhiều đoàn nông dân trong nước đã đến tham quan học tập. Thậm chí đoàn doanh nghiệp, nông dân Thái Lan cũng đã lặn lội sang tận đây để mục sở thị trại heo hiện đại này.
“Mô hình trại heo giống này chỉ sau 4 năm rưỡi - 5 năm là thu hồi được vốn đầu tư (hiện đã hoạt động 4 năm)”, ông Hiếu tự tin và cho biết doanh nghiệp của ông hiện đóng thuế đứng thứ hai ở H.Lộc Ninh, đồng thời hé lộ “sẽ còn tiếp tục đầu tư để hoàn thiện trại heo này tốt hơn, hiện đại nhất không chỉ trong khu vực mà trên cả thế giới”.
Quang Thuần

Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn

21:38 |
Chăn nuôi gà an theo hướng toàn sinh học (ATSH) nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh môi trường do đó công tác tiêu độc vệ sinh sát trùng phải được thực hiện thường xuyên. Trước khi nuôi phải xông xịt sát trùng chuồng trại theo quy định. Trong suốt quá trình nuôi mỗi tuần xịt toàn bộ chuồng trại và khu vực xung quanh (trừ máng ăn, máng uống) 1 lần. Xịt từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 10 bằng dung dịch Biocide 2% với 0,5 lít/m2 chuồng trại lúc trời nắng.
1. Chuẩn bị điều kiện nuôi
- Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
- Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
- Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng.
a. Chuồng trại
- Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn; 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
- Mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông Nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5m để tạo độ thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
b. Lồng úm gà con
- Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
- Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
- Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
Đặt hoặc treo xen kẽ các máng uống với máng ăn trong chuồng hoặc vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
- Gà rất thích tắm cát.
- Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
- Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
2. Chọn giống
- Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri....
- Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
- Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
- Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
- Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
- Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
- Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
- Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.
- Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
- Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
Ánh sáng: Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
- Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.
- Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.
4. Thức ăn cho gà
- Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
- Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
- Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
 - Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo "Ăn sạch, ở sạch, uống sạch". Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
a. Những nguyên nhân gây bệnh
- Môi trường sống:
+ Nước uống phải sạch.
b. Sức đề kháng của cơ thể gia cầm
- Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).
+ Vệ sinh phòng bệnh
- Nước sạch.
- Chuồng nuôi sạch.
- Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
Lịch chủng ngừa
 + Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh
- Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
- Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol...
Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ
6.1. BỆNH CẦU TRÙNG
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
- Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước; Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
6.2. BỆNH THƯƠNG HÀN (Salmonellosis)
Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
6.3. BỆNH DỊCH TẢ (Newcastle disease)
Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính.
- Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
- Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
6.4. BỆNH GUMBORO
Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
- Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
- Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
- Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.

Theo vcn.vnn.vn

Nuôi đà điểu: Đầu tư lớn nhưng lãi cao

20:17 |
Đà điểu Châu Phi (Ostrich) là giống chim khổng lồ lớn nhất thế giới, trứng của nó cũng rất to lớn. Đà điểu có khả năng thích nghi với một vùng trải rộng từ 50 độ vĩ Bắc tới 30 độ vĩ Nam có tất cả các loại hình khí hậu nóng, lạnh, khô, ẩm khác nhau. Hiện nay nhiều nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, các nước Châu Âu (Israel, Pháp....) và Mỹ đang phát triển mạnh chăn nuôi Đà điểu. Đà điểu được du nhập vào nước ta vào những năm gần đây và được Hội Khuyến Nông – Bộ Nông Nghiệp khuyến khích phát triển chăn nuôi.

Đà điểu là loại động vật dễ nuôi, có sức đề kháng tốt, có thể chống chịu với thời tiết khắc nghiệt, chịu rét, chịu nắng tốt. Nuôi đà điểu từ 10 – 12 tháng có thể bán thương phẩm, nuôi 3 tháng có thế bán con giống.
Đà điểu là loại ăn tạp, thức ăn của chúng chủ yếu là các loại cây, rau cỏ, phụ phẩm từ thóc, gạo… Chuồng nuôi xây dựng đơn giản, xung quanh quây bằng lưới B40 cao 1,5m, đường chạy khoảng 40-50m, diện tích ít nhất 20m2/con, bên trong trồng cây có độ che phủ tạo bóng mát cho đà điểu trú ẩn... Máng ăn bằng gỗ được đóng với kích thước 0,3 x 0,25 x 1,0 m, cố định ở độ cao 0,7 - 0,8 m để đà điểu không dẫm đạp và ăn dễ dàng, đảm bảo 4 - 5 con/1 máng ăn.
Khu vực nuôi đà điểu luôn phải sạch sẽ, nên nuôi cách ly với gia cầm và thủy cầm để tránh lây dịch bệnh. Đà điểu rất sợ tiếng ồn nên trang trại nuôi đà điểu phải tách biệt với khu dân cư và phải trồng nhiều cây xanh thì đà điểu mới nhanh lớn.
Trung bình mỗi năm, đà điểu đẻ 2 lần, mỗi lần từ 40-50 quả trứng, tỷ lệ nở tới 80%. Đà điểu con vừa nở đã nặng trên 1 kg. Đà điểu khoảng 2 tuần tuổi cần phải có đèn sưởi ấm. Đà điểu con từ lúc ra khỏi vỏ cho đến lúc được ba tháng tuổi rất khó nuôi, chúng bị vướng nhiều thứ bệnh và dễ chết, chết nhiều. Đây là nhận xét chung của những ai đã từng nuôi đà điểu không những ở nước ta mà tại nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều kinh nghiệm nuôi đà điểu lâu năm cũng vậy. Nuôi đà điểu thương phẩm cho ăn nhiều tăng trưởng nhanh có thể giết thịt từ 10 tháng tuổi. Đà điểu trưởng thành rất cao lớn, con trống cao 2,1-2,75m, nặng 120-150kg; con mái cao 1,75-1,9m, nặng 90-110kg.
Thịt, trứng đà điểu có giá trị dinh dưỡng cao, là món ăn đặc sản tại các nhà hàng, khách sạn ở các thành phố lớn. Da, xương, lông, vỏ trứng của đà điểu cũng có giá trị kinh tế cao trong ngành sản xuất đồ trang sức, mỹ nghệ… được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Thị trường xuất khẩu đang từng bước được phát triển mở rộng tại một số nước ở châu Âu; da đà điểu đã xuất khẩu, thâm nhập vào thị trường Nam Phi, Hàn Quốc.
Sau khi trừ tất cả các chi phí thì đà điểu cho thu nhập cao gấp 6 lần so với nuôi bò, và gấp nhiều lần so với nuôi lợn, gà, tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu là rất lớn. Đà điểu bán thương phẩm trên thị trường hiện nay là 80.000 - 150.000 đồng/kg; trứng đà điểu 150.000/1 quả (trọng lượng 1,2-1,5kg). Mỗi con giống đà điểu mới nở bán được 1,5 triệu đồng, được 3 tháng tuổi bán ra với giá hiện tại 2,2-2,7 triệu đồng, người nuôi trong thời gian trên 8 tháng tuổi đem lại trọng lượng 95-100 kg/con, ước tính trừ các khoản chi phí mỗi con lãi từ 500.000-1 triệu đồng/con.
Rất nhiều hộ nông dân tham gia nuôi đà điểu đã phát tài, giàu có, trong đó đa số các hộ nuôi theo dạng nhận nuôi gia công cho các doanh nghiệp, một số ít đầu tư lập trang trại nuôi để khai thác, phục vụ trong lĩnh vực dịch vụ du lịch.
Ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, bà con nên mua đà điểu giống và tìm hiểu quy trình, công nghệ chăn nuôi đà điểu ở Trại Nghiên cứu đà điểu Ba Vì (thuộc Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương- Viện Chăn nuôi, Từ Liêm, Hà Nội).
Ở các tỉnh phía Nam, bà con hãy đến Trung tâm giống đà điểu tại Tam Kỳ, Quảng Nam và Trung tâm giống đà điểu tại xã Ninh Phụng, Ninh Hòa (đều thuộc Tổng Công ty Khánh Việt -Khánh Hoà).
Vũ Anh

Phát triển ngành chăn nuôi lợn: Tăng liên kết và đầu tư chuyên sâu

20:14 |
Đó là những đề xuất được đưa ra tại Hội thảo “Thực trạng và giải pháp phát triển ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam”, do T.Ư Hội NDVN cùng Hội ND Cộng hòa Liên bang Đức tổ chức ngày 11 và 12.11 ở Hà Nội.
Năng suất thấp, giá thành cao
Tại hội thảo, các chuyên gia về phát triển nông nghiệp đều có chung một nhận định, chăn nuôi lợn là một trong những lĩnh vực có nhiều điểm yếu, chịu nhiều tác động tiêu cực khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, nhất là trong bối cảnh Hiệp định Kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang tiến gần hơn đến ký kết.

Chăn nuôi lợn ở Việt Nam vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, và con giống là một trong những khâu yếu nhất.   Ảnh: Nguyễn Công
Khi đề cập đến thực trạng, nhiều đại biểu đều khẳng định, ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam vẫn đang ở trong tình trạng manh mún, nhỏ lẻ; chủ trang trại, doanh nghiệp chủ yếu vẫn áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ chăn nuôi lạc hậu; chịu sự chi phối về nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ nước ngoài… TS Mai Huy Tân - Giám đốc Công ty Xúc xích Đức Việt chia sẻ: “Chính vì chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ thấp nên lợn thành phẩm của Việt Nam có giá thành rất cao. Giá thành cao thì các doanh nghiệp chế biến thịt sẽ tìm nguồn hàng cạnh tranh hơn từ nước ngoài. Hiện, hơn 90% lượng thịt chế biến của Đức Việt là nhập từ Mỹ và Đan Mạch với giá thành khi về Việt Nam chỉ ở mức hơn 30.000 đồng/kg…”.
Quan điểm của TS Helmut Born: 
 “Tại sao các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ở Việt Nam không góp đất đai lại để cùng xây dựng một hệ thống chuồng trại to hơn, hiện đại hơn? Người chăn nuôi có thể tập hợp nhau lại dưới hình thức hợp tác xã…  
Ở góc độ kinh doanh bảo hiểm, ông Hoàng Xuân Điều - Giám đốc Ban bảo hiểm nông nghiệp (Tổng Công ty Bảo Việt) cũng thừa nhận, bảo hiểm thí điểm trong lĩnh vực nông nghiệp luôn bị lỗ. Bởi lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có chăn nuôi lợn có nhiều rủi ro. “Vấn đề quan trọng để bảo hiểm không bị lỗ là quản lý dịch bệnh trong chăn nuôi. Nhưng chăn nuôi nhỏ lẻ như ở Việt Nam thì rất khó kiểm soát dịch bệnh…” - ông Điều chia sẻ.

Tổ chức lại theo hướng chuyên sâu…
Theo giới thiệu của TS Helmut Born-đại diện Hội ND Đức, hệ thống đào tạo nghề nông nghiệp ở Đức rất chặt chẽ, đảm bảo chỉ có người có tay nghề được công nhận mới làm việc hoặc làm chủ trang trại chăn nuôi.
Các đại biểu, nhất là các chủ trang trại chăn nuôi Việt Nam rất quan tâm tới 2 tham luận của TS Ursula Gerdes - Giám đốc điều hành Quỹ Phòng tránh dịch bệnh cho vật nuôi tiểu bang Neidersachsen (Đức). Các tham luận của ông đã nêu bật các biện pháp phòng, tránh bệnh trong chăn nuôi, công tác đào tạo cơ bản và nâng cao cho ND Đức về phòng, tránh dịch bệnh trên đàn vật nuôi; giới thiệu về mô hình tổ chức, vận hành của Quỹ Phòng tránh dịch bệnh cho vật nuôi tại Đức...
Những thông tin về ngành chăn nuôi ở nước Đức rất bổ ích đối với ND Việt Nam. Những công nghệ, quy trình chăn nuôi này tuy chưa thể áp dụng ngay tại Việt Nam, nhưng sẽ tạo thêm niềm tin, động lực để ND mạnh dạn tìm hiểu, tiếp cận học hỏi dần về sau. Các đại biểu đều có chung một nhận định, ngành chăn nuôi lợn ở VN cần phải được tổ chức lại theo hướng đầu tư chuyên sâu, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách sát thực về đất đai, vốn, chuyển giao công nghệ nhằm khuyến khích, hỗ trợ ND chăn nuôi lợn mạnh dạn đầu tư, áp dụng các tiến bộ KHKT, công nghệ tiên tiến. Anh Nguyễn Ngọc Toàn - chủ trang trại 400 đầu lợn ở xã Trung Châu, huyện Hoài Đức (Hà Nội) cho rằng: “Chăn nuôi trước nay toàn do ND tự phát làm. Gần như các chính sách của Nhà nước rất ít tác động rõ ràng đến quá trình phát triển của các chủ trang trại”.
Liên quan đến việc hạ giá thành sản xuất trong chăn nuôi lợn, theo TS Ngô Thị Kim Cúc (Viện Chăn nuôi quốc gia), cần tăng liên kết giữa các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Bởi chỉ có liên kết thì mới góp phần hạ chi phí các khoản đầu tư “đầu vào” trong chăn nuôi lợn. TS Helmut Born cũng rất đồng tình với ý kiến này của TS Ngô Thị Kim Cúc.
"Cần tạo điều kiện để ND thuê, tích tụ đất đai để mở rộng mặt bằng, đầu tư hiện đại hóa chăn nuôi lợn, chứ hiện nay nhiều nơi vẫn cho chủ trang trại thuê đất theo chu kỳ 5 năm thì rất khó áp dụng công nghệ, hạ giá thành…" đó là ý kiến của Anh Nguyễn Văn Đẩu - Chủ trại lợn 8.000 con ở Từ Sơn (Bắc Ninh)


"Mặc dù Việt Nam đứng thứ 2 châu Á, đứng thứ 6 thế giới về tổng đàn lợn, nhưng phổ biến nhất vẫn là tình trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ. Cụ thể, tỷ lệ hộ chỉ nuôi 1-2 con chiếm tới 51%, còn số hộ chăn nuôi quy mô trên 50 con trở lên chỉ chiếm 1%. Nguồn giống lợn chất lượng ở Việt Nam chủ yếu là nhập ngoại. Cho dù là con giống ngoại tốt, nhưng áp dụng KHCN chăn nuôi chưa tiên tiến nên năng suất, chất lượng lợn thịt thương phẩm thấp, khó cạnh tranh hơn."
TS Nguyễn Thanh Sơn - Viện trưởng Viện Chăn nuôi quốc gia (Bộ NNPTNT) cho biết.
Theo vcn.vnn.vn